10 loài thằn lằn tuyệt vời nhất thế giới

Thằn lằn thuộc lớp bò sát. Đặc điểm xác định của chúng bao gồm một cái đuôi dài, hai cặp chân thò ra khỏi cơ thể và vảy. Hầu hết thằn lằn là động vật máu lạnh và điều chỉnh nhiệt độ cơ thể của chúng bằng cách sử dụng sự trao đổi chất của chúng. Có rất nhiều loài thằn lằn trải rộng trên khắp thế giới. Các loài thằn lằn khác nhau có đặc điểm riêng biệt khác nhau làm cho chúng thú vị để nghiên cứu. Một số trong số họ thậm chí trông giống như thời tiền sử hoặc giống như những sinh vật trong tiểu thuyết giả tưởng!

10. Tắc kè

Tắc kè Tokay là một loài bò sát về đêm thuộc chi Gekko . Nó chủ yếu được tìm thấy ở lục địa châu Á cũng như một số đảo ở Thái Bình Dương. Nó có một cơ thể mạnh mẽ, đầu lớn hơn, chân tay và hàm khỏe mạnh so với các loài tắc kè khác. Tokay là một con thằn lằn lớn có kích thước từ 30 đến 35 cm. Mặc dù nó ngụy trang để hòa trộn với màu sắc của môi trường, nhưng nó thường có màu xám với các đốm màu đỏ. Cơ thể của nó có hình trụ và có kết cấu mịn. Tokays là lưỡng hình tình dục, với con đực sáng hơn con cái. Chúng ăn côn trùng và động vật có xương sống nhỏ khác. Bộ hàm mạnh mẽ cho phép chúng nghiền nát bộ xương của côn trùng.

9. Kỳ nhông biển

Iguanas biển là loài thằn lằn chỉ được tìm thấy trên quần đảo Galapagos của Ecuador, với mỗi hòn đảo có những con cự đà biển có kích cỡ và hình dạng khác nhau. Dân số của chúng đã bị đe dọa trong thời gian gần đây do số lượng động vật ăn thịt cao ăn thằn lằn và trứng của chúng. Kỳ nhông biển là loài bò sát biển được gọi là xấu xí và kinh tởm từ ngoại hình của chúng. Trái ngược với vẻ ngoài hung dữ của chúng, cự đà biển rất hiền lành. Màu sắc của chúng chủ yếu là bồ hóng đen. Chúng có một cái đuôi dẹt dài giúp chúng bơi. Móng vuốt của chúng phẳng và sắc nét, cho phép chúng bám vào đá trong trường hợp dòng chảy mạnh. Họ hắt hơi thường xuyên để trục xuất muối xung quanh lỗ mũi. Bên cạnh hắt hơi, chúng có các tuyến đặc biệt bài tiết lượng muối dư thừa.

8. Thằn lằn đeo bám Armadillo

Thằn lằn Armadillo sống ở vùng sa mạc và bán hoang mạc. Chúng hầu hết được tìm thấy dọc theo bờ biển phía tây của Nam Phi. Thằn lằn ban đầu được sử dụng trong buôn bán thú cưng trước khi chúng bị đe dọa. Chúng có màu nâu nhạt hoặc nâu sẫm, với phần dưới của chúng có màu vàng và đen sọc. Thằn lằn đeo Armadillo là loài bò sát diurnal. Chúng ăn động vật không xương sống nhỏ, thực vật và các loài thằn lằn và động vật gặm nhấm nhỏ khác. Nếu nó cảm thấy nguy hiểm, thằn lằn đeo armadillo đưa đuôi vào miệng để tạo thành hình cầu cho phép nó lăn. Trong hình dạng này, gai của nó ở mặt sau được phơi ra để bảo vệ nó khỏi những kẻ săn mồi.

7. Đá agama

Rock Agamas được tìm thấy ở hầu hết các quốc gia vùng Sahara. Chúng thường dài 13-30cm với con đực dài hơn con cái từ 3 đến 5 inch. Những con thằn lằn thường sống trong một nhóm nhỏ với một con đực làm thủ lĩnh. Con đực đầu đàn được phép giao phối với con cái, nhưng con đực khác không thể giao phối với bất kỳ con cái nào trong nhóm, trừ khi chúng loại bỏ con đực đầu đàn hoặc thành lập nhóm của chúng. Đá agama ăn côn trùng, bò sát, động vật có vú nhỏ và thảm thực vật. Chúng giao phối trong mùa mưa. Trước khi giao phối, con đực đào những cái lỗ nhỏ bằng mõm của nó. Sau khi giao phối, con cái nằm trong các lỗ. Thời gian ủ bệnh mất 8 đến 10 tuần.

6. Rồng Komodo

Rồng Komodo là loài thằn lằn lớn nhất được biết đến. Nó được tìm thấy trên các đảo Komodo, Rinca, Flores và Gili Motang của Indonesia. Rồng Komodo trưởng thành thường nặng trung bình 70kg và dài khoảng 3 mét. Nó săn mồi bằng cách phục kích con mồi bao gồm chim, động vật không xương sống, động vật có vú nhỏ và trong những trường hợp hiếm hoi là con người. Vết cắn của nó là nọc độc. Nọc độc protein mà nó tiêm có thể dẫn đến bất tỉnh, huyết áp thấp, cơ bắp bị tê liệt và gây ra tình trạng hạ thân nhiệt ở con mồi. Chúng giao phối giữa tháng 5 và tháng 8, với con cái đẻ trứng vào giữa tháng 8 và tháng 9.

5. Rồng gai

Rồng gai chủ yếu được tìm thấy trong các sa mạc Úc. Nó phát triển lên đến 20 cm với tuổi thọ từ 15 đến 16 năm. Màu của nó thường là nâu sa mạc hoặc nâu. Nó ngụy trang trong thời tiết lạnh để tạo thành một màu tối hơn màu bình thường của nó. Cơ thể của nó được bao phủ trong gai để phòng thủ. Thằn lằn có các mô mềm giống như đầu của nó. Các mô nằm trên cổ. Mục đích của mô là phòng thủ, theo đó con rồng gai chèn đầu thật của nó trong trường hợp nó cảm thấy nguy hiểm. Đối với cơ chế sinh tồn xa hơn trên sa mạc, nó chỉ đơn giản là nó ngập sâu trong tay chân, chân hút nước bằng mao mạch, nước sau đó được vận chuyển đến miệng qua da. Nó ăn kiến.

4. Truy tìm quái vật gila

Quái vật gila có hình thù được tìm thấy chủ yếu ở Mexico và Hoa Kỳ, trong các sa mạc và khu vực đá. Chúng có đầu dẹt, hình tam giác, với con đực có đầu to hơn con cái. Chúng có thân dài, mập và hình trụ, với con cái có thân rộng hơn. Chế độ ăn uống của chúng bao gồm trứng bò sát, chim và động vật gặm nhấm. Kỹ năng săn bắn của họ được trao quyền bởi khứu giác và thính giác mạnh mẽ. Chúng có thể nghe thấy những rung động của con mồi từ xa và ngửi thấy mùi trứng chôn. Thân và đuôi lớn được sử dụng để lưu trữ chất béo và nước, cho phép chúng sống sót trong sa mạc. Các vảy khô và bong tróc ngăn ngừa mất nước quá mức từ cơ thể của họ.

3. Tắc kè hoa

Tắc kè hoa của Parson là con tắc kè hoa lớn nhất thế giới về trọng lượng. Nó được tìm thấy trong các khu rừng mưa nhiệt đới ở Madagascar. Đầu lớn và hình tam giác và có đôi mắt di chuyển độc lập. Những con đực có những đường vân chạy phía trên mắt, di chuyển về phía mũi tạo thành những cấu trúc giống như sừng. Con cái đẻ tới năm mươi quả trứng, phải mất tối đa 2 năm để nở. Sau khi nở, con tắc kè hoa Parson trẻ tuổi trở nên độc lập ngay lập tức. Vì vẻ ngoài của chúng, chúng đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ nước bản địa của chúng. Tuy nhiên, do bản chất tinh tế của chúng, hầu hết chúng chết trong quá trình vận chuyển. Chúng là động vật đứng yên, chỉ thực hiện một chuyển động tối thiểu khi ăn, uống hoặc giao phối.

2. Tắc kè bay

Tắc kè bay được tìm thấy ở lục địa châu Á, đặc biệt là ở Ấn Độ, Indonesia, Nam Thái Lan và Singapore. Họ có vạt ở hai bên cơ thể. Bàn chân của họ có màng. Chúng ăn dế, giun sáp và giun ăn. Họ là người về đêm. Những con đực trở thành lãnh thổ và rất khó để chứa trong một cái lồng. Chúng ngụy trang bằng vỏ cây khiến chúng khó nhìn thấy chúng, giúp chúng trốn thoát và trốn tránh những kẻ săn mồi. Tắc kè bay sống bên trong cây và nhảy từ cành này sang cành khác, đặc biệt là khi chúng phát hiện ra nguy hiểm.

1. Tê giác

Tê giác Iguana là một loài thằn lằn bị đe dọa được tìm thấy trên đảo Hispaniola ở Caribbean. Chúng có một phần mở rộng giống như sừng từ mõm của chúng, giống như một con tê giác. Chúng chủ yếu là 60-136 cm và nặng từ 4, 5 kg đến 9 kg. Màu sắc của chúng thay đổi từ xám, xanh đậm và nâu. Tê giác tê giác có thân và đầu to. Đuôi của chúng được làm phẳng theo chiều dọc và mạnh mẽ. Thằn lằn có hình dạng lưỡng hình tình dục với con đực lớn hơn con cái. Sau khi giao phối, con cái đẻ từ 2 đến 34 trứng trong khoảng thời gian 40 ngày. Trứng của chúng là một trong những trứng thằn lằn lớn nhất.

Đề XuấT

Hoa tiểu bang Hawaii là gì?
2019
Khi nào Bahamas giành được độc lập từ Vương quốc Anh?
2019
Các dòng chính và dòng chảy ra khỏi hồ Michigan là gì?
2019