Các ngành công nghiệp lớn nhất ở Bồ Đào Nha

Bồ Đào Nha nằm ở phía tây của Tây Ban Nha trên bán đảo Iberia, nơi đây là thành viên của Liên minh châu Âu. Quốc gia này có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 205, 86 tỷ đô la mà khi điều chỉnh theo ngang giá sức mua bằng 310, 651 tỷ đô la. Với tổng quy mô dân số hơn 10, 37 triệu người, GDP bình quân mỗi người (khi được điều chỉnh theo ngang giá sức mua) là 30.192 USD. Tổng lực lượng lao động ở đây chỉ là 5, 2 triệu, một con số đã giảm gần đây khi các cá nhân thất nghiệp rời đi để tìm kiếm cơ hội việc làm ở nơi khác. Tính đến năm 2012, ngay sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khoảng 45, 4% dân số Bồ Đào Nha có nguy cơ đói nghèo. Con số này đã bị thổi phồng, tuy nhiên, bởi tỷ lệ thất nghiệp cao ở đất nước này vào thời điểm đó.

Nền kinh tế của Bồ Đào Nha đã bật trở lại kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và hiện đang báo cáo mức tăng trưởng GDP hàng năm là 1, 5%. Quốc gia này xuất khẩu tổng cộng 54, 7 tỷ đô la hàng hóa trên cơ sở hàng năm, làm cho nó trở thành nền kinh tế xuất khẩu lớn thứ 40 trên thế giới. Ngoài ra, nó nhập khẩu khoảng 67, 1 tỷ đô la, khiến Bồ Đào Nha thâm hụt thương mại 12, 4 tỷ đô la.

Nền kinh tế này ở đây đã từng phụ thuộc rất nhiều vào ngành sản xuất (còn được gọi là ngành công nghiệp), mặc dù ngày nay nó đang chuyển hướng nhiều hơn sang lĩnh vực dịch vụ. Ví dụ, phần lớn cư dân làm việc tại quốc gia này được sử dụng bởi ngành dịch vụ (69, 1%). Lĩnh vực này được theo sau bởi công nghiệp (24, 5%) và nông nghiệp (2, 4%). Trong lĩnh vực công nghiệp, các tập đoàn hoạt động tại quốc gia này có xu hướng sản xuất các mặt hàng sau: máy móc, phụ tùng ô tô và tàu, dệt may, hàng dầu tinh chế, nhựa, thực phẩm và đồ uống.

Lịch sử ngành công nghiệp

Như đã đề cập trước đây, ngành công nghiệp sử dụng gần một phần tư lực lượng lao động ở Bồ Đào Nha, làm cho nó trở thành ngành lớn thứ hai của nền kinh tế.

Vào giữa những năm 1970, ngành công nghiệp và công nghiệp sản xuất ở Bồ Đào Nha hoạt động hiệu quả nhất, đóng góp 35% GDP quốc gia. Vào cuối những năm 1980, lĩnh vực này tập trung chủ yếu vào sản xuất đường tinh luyện (với 285.900 tấn sản xuất), phân bón hóa học (với 1, 3 triệu tấn sản xuất), hàng thép (với 386.900 tấn sản xuất) và cá mòi đóng gói (với 27.400 tấn tấn tấn sản xuất). Đến những năm 1990, nền kinh tế ở Bồ Đào Nha đã chuyển sang điện tử, phụ tùng ô tô và hàng nhựa. Trong thập kỷ này, khu vực công nghiệp tăng trưởng khoảng 3, 1%, tốc độ tăng trưởng trung bình. Các nhà kinh tế đã giải thích sự tăng trưởng này bằng cách chỉ ra các chính sách của chính phủ thời đó, hoạt động để thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mục tiêu này đã được thực hiện bằng cách cung cấp trợ cấp cho các nhà đầu tư và tư nhân hóa các ngành công nghiệp trước đây thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy nhiên, không phải tất cả sự tăng trưởng này do đầu tư nước ngoài được duy trì trong thời gian dài. Chỉ trong 5 năm ngắn ngủi (từ 1995 đến 2000), cả hai nhà máy sản xuất ô tô của Ford và Renault đều đóng cửa.

Đồng thời, ngành công nghiệp ở Bồ Đào Nha đang mất các nhà máy sản xuất ô tô, họ cũng đang phải vật lộn để duy trì khả năng cạnh tranh với thị trường ở châu Á. Ngành dệt may của nó, bao gồm cả quần áo và giày dép, cũng đã giảm mạnh trong nửa cuối thập niên 1990. Các nhà kinh tế tin rằng các chính sách của chính phủ để phá giá tiền tệ ở châu Á, cùng với mức lương thấp hơn nhiều đã làm việc chống lại ngành công nghiệp sản xuất ở Bồ Đào Nha.

Ngành công nghiệp ngày nay

Mặc dù mất một vài nhà máy ô tô vào cuối những năm 1990, Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục sản xuất một số xe hơi và phụ tùng xe hơi ngày nay. Các nhà máy tập trung vào sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô chủ yếu tập trung ở trong và xung quanh các thành phố Lisbon, Porto, Setubal, Braga và Aveiro. Khi ngành công nghiệp sản xuất ngày càng cạnh tranh trên toàn cầu, các nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp ở Bồ Đào Nha đã chuyển sang các sản phẩm dựa trên công nghệ nhiều hơn. Hàng hóa như phần mềm máy tính và dược phẩm hiện đang được sản xuất với các nhà máy chủ yếu ở các thành phố Oeiras và Coimbra. Các sản phẩm công nghiệp hiện đại khác đang được sản xuất tại Bồ Đào Nha ngày nay bao gồm các ngành công nghiệp sau: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ hàng không vũ trụ.

Kinh tế xuất khẩu

Như đã đề cập trước đây, Bồ Đào Nha có nền kinh tế xuất khẩu lớn thứ 40 trên thế giới. Các quốc gia hàng đầu về hàng hóa xuất khẩu từ Bồ Đào Nha bao gồm Tây Ban Nha (14, 6 tỷ USD), Pháp (7, 01 tỷ USD), Đức (6, 48 tỷ USD), Anh (3, 92 tỷ USD) và Mỹ (2, 73 tỷ USD).

Các sản phẩm xuất khẩu có thể được sắp xếp theo danh mục cụ thể để có ý tưởng tốt hơn về lĩnh vực nào trong ngành này chịu trách nhiệm cho việc xuất khẩu nhiều nhất. Mặc dù sản phẩm được xuất khẩu rộng rãi nhất từ ​​Bồ Đào Nha là phụ tùng xe (chiếm 4, 9% tổng giá trị xuất khẩu, tương đương 2, 67 tỷ USD), nhưng loại sản phẩm máy kết hợp thực sự chiếm tỷ lệ xuất khẩu lớn nhất với giá trị hàng năm là 8, 44 tỷ USD. Các mặt hàng cụ thể được xuất khẩu từ loại này bao gồm dây cách điện (1, 4% của tất cả hàng xuất khẩu), khuôn kim loại (1, 3%), máy thu radio (1, 2%) và bảng điều khiển điện (0, 83%). Loại hàng xuất khẩu kết hợp lớn thứ hai là hàng hóa liên quan đến vận tải với giá trị hàng năm là 6, 28 tỷ USD. Các bộ phận xe (hàng xuất khẩu lớn nhất) được phân loại theo thể loại này. Ô tô chiếm hàng hóa xuất khẩu lớn thứ hai trong danh mục này với 3, 6% tổng số sản phẩm xuất khẩu (với giá trị hàng năm là 1, 96 tỷ USD). Cuối cùng, loại xuất khẩu lớn thứ ba cho Bồ Đào Nha là hàng dệt may, chiếm 5, 6 tỷ đô la của tất cả hàng xuất khẩu. Trong danh mục này, các mặt hàng xuất khẩu phổ biến nhất bao gồm áo thun đan (1, 7% tổng số hàng xuất khẩu), khăn trải nhà (1%) và áo len đan (0, 66%).

Nền kinh tế nhập khẩu

Các quốc gia hàng đầu mà Bồ Đào Nha nhập khẩu hàng hóa bao gồm: Tây Ban Nha (20, 1 tỷ USD), Đức (8, 92 tỷ USD), Pháp (5, 05 tỷ USD), Trung Quốc (4 tỷ USD) và Ý (3, 89 tỷ USD).

Danh mục hàng hóa nhập khẩu lớn nhất là máy móc với giá trị hàng năm là 11, 2 tỷ USD. Trong danh mục này, các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất là máy tính (1, 1% tổng số hàng nhập khẩu), thiết bị phát sóng (0, 93%) và mạch tích hợp (0, 82%). Danh mục nhập khẩu lớn thứ hai là ô tô. Trên thực tế, ô tô tự tạo ra 6, 7% tổng số hàng nhập khẩu với giá trị 4, 49 tỷ USD. Tiếp theo là các bộ phận xe, chiếm 3, 6% tổng số hàng nhập khẩu với giá trị 2, 4 tỷ USD.

Đề XuấT

Sự kiện Pronghorn: Động vật Bắc Mỹ
2019
Bill Gates - Nhân vật quan trọng trong lịch sử
2019
Những quốc gia châu Âu nào không nằm trong khu vực Schengen?
2019