Sự khác biệt giữa cá sụn và cá xương là gì?

Cá xương là gì?

Cá xương, còn được gọi là Osteichthyes, là một nhóm cá được đặc trưng bởi sự hiện diện của mô xương. Phần lớn cá trên thế giới thuộc trật tự phân loại này, bao gồm 45 đơn đặt hàng, 435 họ và khoảng 28.000 loài. Lớp cá này được chia thành hai nhóm nhỏ: Actinopterygii (vây vây) và Sarcopterygii (vây thùy).

Cá sụn là gì?

Cá sụn, còn được gọi là Chondrichthyes, là một nhóm cá được đặc trưng bởi sự hiện diện của mô sụn chứ không phải mô xương. Lớp cá này được chia thành hai nhóm nhỏ: Elasmobranchii và Holocephali. Tên phổ biến của cá sụn bao gồm cá mập, giày trượt, cá cưa, cá đuối và chimaera.

Sự khác biệt giữa cá xương và cá sụn

Sự khác biệt chính giữa cá xương và cá sụn là trong trang điểm bộ xương. Như đã đề cập trước đây, cá xương có bộ xương trong khi cá sụn có bộ xương làm từ sụn. Tuy nhiên, có một số khác biệt khác giữa hai loại cá này. Những khác biệt được liệt kê dưới đây.

Môi trường sống

Phần lớn cá sụn sống sót trong môi trường biển, hoặc nước mặn. Những con cá này có thể được tìm thấy trên khắp biển và đại dương của thế giới. Ngược lại, cá xương được tìm thấy ở cả môi trường nước mặn và nước ngọt.

Mang

Mang cá là các mô nằm ở hai bên cổ họng. Những ion này và nước vào hệ thống của cá, nơi trao đổi oxy từ nước và carbon dioxide từ cá. Nói cách khác, mang cá hoạt động như phổi. Ở cá xương, mang được bao phủ bởi một vạt da bên ngoài, được gọi là operculum. Ở cá sụn, mang mang ra ngoài và không được bảo vệ bởi bất kỳ lớp da bên ngoài nào. Phần lớn cá, dù là xương hay sụn, đều có năm cặp mang.

Sinh sản

Cá xương và sụn cũng khác nhau trong hành vi sinh sản của chúng. Cá xương sinh sản trong những gì được coi là một hình thức sinh sản nguyên thủy. Những con cá này tạo ra một số lượng lớn trứng nhỏ với rất ít lòng đỏ. Những quả trứng này được thả vào vùng nước mở, giữa các tảng đá trên sông hoặc đáy biển. Cá đực sau đó bơi qua những quả trứng đã đẻ, thụ tinh với tinh trùng có thể hoặc không thể đến được tất cả trứng. Trứng nở thành ấu trùng, về cơ bản là không phòng vệ. Ấu trùng sau đó phải phát triển trong tự nhiên, nơi chúng dễ bị tổn thương trước các mối đe dọa bên ngoài. Trong phương pháp này, tỷ lệ sống thấp.

Ở cá sụn, sinh sản xảy ra bên trong. Tinh trùng được lắng đọng bên trong con cái để thụ tinh cho một số lượng nhỏ trứng có kích thước lớn với một lượng lòng đỏ đáng kể. Phôi cá sụn có thể phát triển theo một trong hai cách cư xử. Trong một, phôi phát triển trong một quả trứng, dựa vào lòng đỏ lớn để lấy chất dinh dưỡng. Theo cách thứ hai, tiên tiến hơn, phôi có thể phát triển trong môi trường an toàn và được bảo vệ của tử cung của người mẹ. Những con cá này được sinh ra như những sinh vật đầy đủ chức năng, chứ không phải là ấu trùng đang phát triển. Sau khi giao hàng hoặc nở, cá sụn con có thể săn mồi và ẩn nấp trước kẻ săn mồi. Quá trình phát triển này đảm bảo tỷ lệ sống cao hơn.

Trái tim và máu

Trong cả hai lớp cá, trái tim được chia thành 4 khoang. Trong trái tim của cá sụn, một trong những buồng này được gọi là conus arteriosus, một cơ tim co bóp đặc biệt. Ở vị trí của buồng này, cá xương có một động mạch củ, một cơ không co bóp.

Một điểm khác biệt giữa cá xương và sụn là ở cách mỗi lớp tạo ra các tế bào hồng cầu. Ở cá xương, các tế bào hồng cầu được sản xuất trong tủy xương, phần trung tâm của xương. Quá trình này được gọi là hemopoiesis. Cá sụn thiếu tủy xương để tạo máu. Thay vào đó, những con cá này tạo ra các tế bào hồng cầu trong các cơ quan lá lách và tuyến ức.

Cấu trúc hàm

Hàm tạo thành một phần của miệng, cho phép nó mở và đóng để nắm và tiêu hóa thức ăn. Cấu trúc của nó là khác nhau ở cá sụn và xương. Ví dụ, cá xương có hai bộ hàm: hàm miệng và hàm hầu. Hàm miệng cho phép cá xương bắt thức ăn, cắn và nhai nó. Răng thường chỉ mọc dọc theo một bên hàm. Hàm hầu, nằm trong cổ họng, tiếp tục tiêu hóa thức ăn bằng cách chế biến nó trước khi nó di chuyển từ miệng đến dạ dày.

Ngược lại, cá sụn thiếu hàm hầu. Hàm miệng của những con cá này bao gồm sụn và được tách thành một phần trên và dưới. Mỗi phần có thể giữ một số răng, mọc thành nhiều bộ. Cá sụn thậm chí có thể mọc lại răng khi chúng mòn dần theo thời gian.

Hệ thống tiêu hóa

Hệ thống tiêu hóa giữa xương và sụn cá cũng khác nhau. Ruột của cá sụn thường ngắn hơn so với cá xương, tuy nhiên, nó xoắn quanh bên trong để tạo ra diện tích bề mặt lớn hơn giúp tối ưu hóa sự hấp thụ chất dinh dưỡng. Ở cá xương, ruột dài hơn và không có hình xoắn ốc.

Dạ dày hình chữ J có thể được tìm thấy ở cá sụn, trong khi cá xương có nhiều hình dạng dạ dày và trong một số trường hợp, không có dạ dày nào cả.

Cloaca, mở qua đó nước tiểu và phân được bài tiết cũng khác nhau. Nó chỉ có thể được tìm thấy trong cá sụn và vây thùy. Ở các loài cá xương khác, đường tiết niệu, bộ phận sinh dục và hậu môn đều có một lỗ mở riêng.

Phao trung tính

Cá phải có một hệ thống phao bên trong để ngăn chúng nổi lên trên mặt nước hoặc chìm xuống đáy, được gọi là phao trung tính. Cá xương có thể duy trì độ nổi trung tính với sự trợ giúp từ bàng quang bơi. Bàng quang bơi thường là một cơ quan hai túi kiểm soát thể tích khí bên trong để giúp cá duy trì một vị trí nhất định trong nước. Điều này cho phép họ bảo tồn năng lượng mà họ có thể sử dụng bằng cách bơi để duy trì độ nổi trung tính. Một số loài cá xương đã mất bàng quang bơi qua quá trình tiến hóa; hầu hết trong số này là những loài sống ở đáy.

Cá sụn có thể đạt được độ nổi trung tính do trọng lượng nhẹ hơn của bộ xương sụn và ngoại thất thủy động hơn. Một số loài cá sụn, như cá mập, thậm chí bơi lên mặt nước để lấy không khí giúp chúng duy trì vị trí trong nước.

Đề XuấT

Ai là người cuồng nhiệt hay người Mevlevi?
2019
Tầm quan trọng của thang cá là gì?
2019
Những điểm cực đoan nhất của Nhật Bản
2019